Đại hồi chứa anethol (C10H12O), có thành phần tương tự để tạo ra mùi vị như cây tiểu hồi vốn không có quan hệ họ hàng gì với nhau. Gần đây, đại hồi được sử dụng như là chất thay thế rẻ tiền hơn cho tiểu hồi trong việc nướng bánh, sản xuất rượu mùi của người Phương Tây.
Đại hồi cũng được sử dụng để chữa thấp khớp và đau bụng, các hạt của nó còn được nhai sau bữa ăn để giúp tiêu hóa.
Tây y dùng hồi làm thuốc giúp tiêu hóa, lợi sữa, làm dịu đau, dịu co bóp, được dùng trong đau dạ dày, đau ruột và những trường hợp dạ dày và ruột co bóp quá mạnh. Ngoài ra, nó còn được dùng làm rượu mùi, làm thơm thuốc đánh răng. Tuy nhiên, nếu dùng nhiều và liều quá cao sẽ gây ngộ độc với hiện tượng say, chân tay run, sung huyết não và phổi; trạng thái này có khi dẫn tới co giật như động kinh.
Theo tài liệu cổ và Giáo sư Đỗ Tất Lợi thì đại hồi vị cay, tính ôn, có tác dụng đuổi hàn kiện tỳ, khai vị, dùng chữa nôn mửa, đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc thịt cá. Những người âm hư, hỏa vượng không dùng được. Hiện nay, đại hồi thường được dùng làm thuốc trợ giúp tiêu hóa, ăn uống không tiêu, nôn mửa, đau nhức tê thấp. Mỗi ngày dùng 4-8 g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài ngâm rượu xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp.
Mặc dù được sản xuất trong các sinh vật tự dưỡng, nhưng đại hồi là nguồn công nghiệp quan trọng nhất để sản xuất axit shikimic, là thành phần quan trọng cơ bản để sản xuất thuốc điều trị bệnh cúmTamiflu. Tamiflu được coi là dược phẩm có triển vọng nhất để làm giảm tác hại dịch cúm H5N1.

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *